Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật kinh tế
Tên luận án: Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam
1. Luận án đã làm rõ khái niệm của tập trung kinh tê. Cụ thể, tập trung kinh tề là hành vi của doanh nghiệp thực hiện việc tập trung quyền lực thị trường nhằm củng cố vị trí kinh tế của chủ thể kinh doanh đã tổn tại hoặc được tổ chức lại, dẫn đến việc chủ thể này có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể khác hoặc ảnh hưởng đến thị trường liên quan.
2. Luận án đã khẳng định, về bản chất, tập trung kinh tế là hiện tượng bình thường, tất yếu và chính đáng của doanh nghiệp mong muốn mở rộng thị trường. trong hoạt động kinh doanh và tự thân tập trung kinh tế là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán… tập trung kinh tế là hành vi tập trung quyền lực thị trường nhưng tập trung kinh tế không phải là hành vi hạn chế cạnh tranh, mà mới chỉ là nguy cơ tiềm năng có thể gây ra hành vi hạn chế cạnh tranh. Do đó, việc xem xét bản chất của hành vi tập trung kinh tế nhất thiết cần xác định được sức mạnh thị trường mà tập trung kinh tế sẽ tạo ra và tác động của nó. Về đặc điểm, chủ thể thực hiện tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường, tập trung kinh tế được thực hiện theo các hình thức tích tụ và gia tăng tư bản được pháp luật quy định; từ đó hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường.
3. Luận án đã khẳng định rằng, kiểm soát tập trung kinh tế là kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế nhằm tạo ra quyền lực thị trường và kết quả là khả năng gây hạn chế cạnh tranh mà không phải đối với tất cả mọi hành vi tập trung kinh tế. Do đó pháp luật chỉ can thiệp khi hoạt động tập trung kinh tế mang lại nguy cơ hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
4. Luận án đã làm rõ nền tảng lý luận của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế. Cụ thể, luận án đã khẳng định pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tồn tại có cơ sở lý luận từ bản chất kinh tế – pháp lý của hoạt động tập trung kinh tế; xuất phát chính từ vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ cạnh tranh, kiểm soát tập trung kinh tế của Nhà nước, thể hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, là bộ phận trong tổng thể chính sách công nhằm thực thi các mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia và nhằm ngăn chặn và loại bỏ các hành vi tập trung kinh tế có tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, đồng thời nhằm phát huy và tạo điều kiện phát triển các hiệu ứng tích cực đến cạnh tranh của hoạt động tập trung kinh tế.
5. Luận án đã phân tích, đánh giá toàn diện cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam, bao gồm các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế và thực thi kiểm soát tập trung kinh tế hiện hành. Đặc biệt luận án phân tích chuyên sâu những hạn chế, bất cập của việc áp dụng các quy định này về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Đáng chú ý là phân tích về những bất cập sau đây: việc sử dụng tiêu chí thị phần, về đối tượng và phạm vi áp dụng, về ngưỡng thị phần, hạn chế về thẩm quyền của cơ quan cạnh tranh và những tiêu chí đánh giá tác động về kinh tế của vụ tập trung kinh tế đối với cạnh tranh. Về cấu trúc, luận án được thiết kế theo hướng hiện đại, giải quyết một cách cụ thể, trục diện từng vấn đề nghiên cứu và bằng các kiến nghị, giải pháp cụ thể.
6. Luận án đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam. Cụ thể, các kiến nghị của luận án dựa trên cơ sở của những nền tảng sau đây. Thứ nhất, cần phải đánh giá tác động kinh tế của vụ tập trung kinh tế dựa trên cơ sở kết hợp tư duy kinh tế và pháp lý. Thứ hai, xây dụng cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế không còn xoay quanh tiêu chí thị phần, mà sử dụng một hệ thống các tiêu chí khác để xem xét ngưỡng thông báo tập trung kinh tế và đánh giá tác động đến thị trường của cạnh tranh. Thứ ba, trong cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế, cơ quan cạnh tranh giữ vai trò trung tâm, khẳng định một cơ quan cạnh tranh độc lập là cốt lõi và yếu tố quyết định đến hiệu quả của kiểm soát tập trung kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực đến cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện phát huy những tác động tích cực đến cạnh tranh.