Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kế toán
Tên luận án: Định hướng về việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam
Nội dung ngắn gọn những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận, những luận điểm mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án:
Quá trình hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra ở Việt Nam (VN) thông qua việc gia nhập các diễn đàn kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua đã tạo ra một sức ép phải hội nhập quốc tế về kế toán. Cần làm giảm sự khác biệt giữa Báo cáo tài chính (BCTC) của VN và các quốc gia khác. Giá trị hợp lý (GTHL) được nhận diện là một nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong quy định kế toán của các quốc gia (Cairns và cộng sự (2011). Trong khi đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng GTHL trong đo lường sau ban đầu thì VN vẫn chưa áp dụng. Vậy GTHL có đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế về kế toán tại VN không? GTHL có cần thiết và có đủ điều kiện để áp dụng tại VN không? Luận án này thực hiện hai nghiên cứu để trả lời các câu hỏi trên, và kết quả tìm thấy được đã có một số đóng góp nhất định về mặt lý thuyết và thực tiễn. Cụ thể:
1. Đóng góp của luận án liên quan đến các lý thuyết nền
Luận án đóng góp các bằng chứng về việc áp dụng các lý thuyết liên quan đến lập quy trong quá trình ban hành các chính sách ở Việt Nam và đóng góp bằng chứng về việc áp dụng lý thuyết liên quan đến hành vi lựa chọn của nhà quản lý ở Việt Nam.
(1) Đối với các lý thuyết về lập quy
Về mặt lý thuyết, luận án đã cho thấy lý thuyết phù hợp để giải thích cho việc ban hành các quy định kế toán trong thời gian vừa qua là dựa trên lý thuyết lợi ích tư về lập quy
(Private Interest Theories of Regulation). Theo lý thuyết này, các quy định có thể không được ban hành vì nhà lập quy không có đầy đủ thông tin về nhu cầu của tất cả các thành phần kinh tế mà chỉ dựa vào nhu cầu của thành phần kinh tế nào đó. Thật vậy, vụ phó vụ chế độ kế toán và kiểm toán1 đã cho rằng việc xây dựng chính sách trong thời gian vừa qua bị chi phối bởi doanh nghiệp nhà nước, lấy doanh nghiệp nhà nước làm trung tâm. Điều này cũng đúng với bối cảnh của VN, trong giai đoạn ban hành chuẩn mực kế toán VN 2001 – 2005, nền kinh tế VN phụ thuộc vào doanh nghiệp nhà nước, với số lượng doanh nghiệp nhà nước nhiều và tỉ trọng đóng góp vào GDP cao và ổn định. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy GTHL cho đo lường sau ban đầu không được ban hành trong các quy định của kế toán Việt Nam và kết quả của quá trình khảo sát quan điểm của các doanh nghiệp đã cho thấy các công ty cổ phần niêm yết có gốc từ doanh nghiệp nhà nước không ủng hộ áp dụng GTHL. Từ đó cho thấy lý thuyết lợi ích tư là cơ sở để giải thích cho việc ban hành chính sách kế toán tại VN trong thời gian vừa qua. Ở khía cạnh khác, lý thuyết lập quy cho rằng một quy định có thể không được ban hành vì các nhà lập quy cho rằng chưa sẵn sàng để áp dụng quy định đó. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng VN chưa có các thông tin trên thị trường để đo lường GTHL, nhân sự định giá ở mức trung bình, và các phương pháp đo lường GTHL được xem là phức tạp. Có lẽ đó cũng chính là nguyên nhân mà GTHL chưa được các cơ quan lập quy ban hành trong thời gian vừa qua.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở cho việc ban hành chính sách dựa trên lý thuyết lợi ích chung về lập quy (Public Interest Theories of Regulation). Thông qua nghiên cứu cụ thể về việc áp dụng GTHL, luận án cho thấy rằng quá trình ban hành chính sách, cụ thể là việc áp dụng GTHL, cần phải tính toán lợi ích của các đối tượng khác nhau, cần thay đổi quan điểm chỉ dựa vào doanh nghiệp nhà nước. Kết quả nghiên cứu của luận án đã cho thấy ý kiến của đại diện phần lớn các thành phần kinh tế trong xã hội, đó là công ty niêm yết, công ty cổ phần không niêm yết, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân đều ủng hộ áp dụng GTHL. Đây là một đóng góp cho thấy bức tranh về sự ủng hộ của các thành phần trong xã hội để từ đó cho thấy rằng việc ban hành các quy định về GTHL ở VN có thể dựa trên lý thuyết lợi ích chung về lập quy.
…